LỊCH SỬ, Ý NGHĨA VÀ HÌNH TƯỢNG PHẬT A DI ĐÀ
phật thích ca có chữ vạn không hay còn gọi là thờ phật a di đà trong tiếng Phạn có nghĩa là ánh sáng vô lượng. tượng phật a di đà bằng đồng có nghĩa vô lượng quang, vô lượng thọ. phan biet phat thich ca va phat adida Vô lượng Thọ nghĩa là tuổi sống lâu không có số lượng; tượng phật a di đà tịnh tông Vô lượng Quang, đặt tượng phật a di đà trong nhà là Ngài có hào quang sáng suốt không lường. tượng phật adida bằng gỗ Ngài là giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc, tượng phật a di đà Ngài đến thế giới này với vai trò là một thế lực cứu độ. hình phật a di đà Ngài nguyện sẽ tịnh hoá thế giới và biến nó thành một trong những Phật độ thanh tịnh và đẹp đẽ nhất. tượng a di đà nguyện sẵn sàng tiếp dẫn chúng sanh nào niệm danh hiệu của Ngài sau khi mất sẽ được Ngài tiếp dẫn tiếp dẫn vãng sanh về cõi Cực lạc
tượng a di đà bằng đá
TƯỢNG PHẬT A DI ĐÀ
Ý NGHĨA VÀ HÌNH TƯỢNG PHẬT A DI ĐÀ
tuong phat adida được thờ cúng thường có 2 hình dạng:
hình phật di đà ngồi kiết già trên tòa sen, tượng phật a di đà tay kiết định ấn, hình phật a di đà ngồi tương tự tượng phật di đà
tượng phật a di đà ngồi
tượng phật a di đà đứng đứng trên hoa sen lơ lửng trong hư không, tượng phật a di đà bằng gỗ bên dưới là bể cả sóng dậy chập chồng, tượng phật adida mắt Ngài nhìn xuống, tượng phật a di đà bằng đá tay mặt đưa lên ngang vai, hình phật a di đà tiếp dẫn tay trái duỗi xuống như sẵn sàng chờ đợi tiếp cứu những người đang trầm mịch. tượng adida Tượng ấy gọi là hình phật a di đà đứng. tay phải của Phật A Di Đà đưa lên biểu thị tứ thánh (Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật), di đà tam tôn tay trái duỗi xuống biểu thị lục phàm (Thiên, nhơn, A-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục). tượng phật a di đà nhỏ Nghĩa là Ngài sẵn sàng tiếp độ lục phàm đưa lên quả vị tứ thánh. tượng phật a di đà bằng đong lộc nam Chúng ta sẽ thấy rõ hơn ý nghĩa hình tượng này qua bốn câu kệ tán dương Ngài:
“Sông ái sóng ngàn thước,
Bể khổ dậy muôn trùng;
Kiếp luân hồi muốn thoát,
Sớm gấp niệm Di Đà.”
Tượng Phật A Di Đà
Chúng ta là những chúng sanh đang đắm chìm trong đau thương thống khổ tràn trề như bể cả. tượng phật a di đà đứng chờ sẵn trong hư không, tượng a di đà chùa phật tích duỗi cánh tay chờ đợi cứu vớt chúng ta.
phật thích ca có chữ vạn khôngLiệu chúng ta có chịu thức tỉnh, thờ phật a di đà ngoi đầu lên khỏi dòng sông ái, tượng phật a di đà bằng đồng đưa tay cho Ngài cứu vớt hay không? Hình tượng Phật A Di Đà là hình ảnh mong chờ đón tiếp. Phật là hiện thân cứu khổ, phan biet phat thich ca va phat adida chúng ta là thực thể khổ đau. tượng phật a di đà tịnh tông Một ngày nào chúng ta không còn đau khổ, đặt tượng phật a di đà trong nhà ngày ấy đức Phật sẽ không còn duỗi tay chờ đợi cứu vớt chúng sanh.
tượng a di đà bằng đá
Lịch sử tu Nhân – chứng quả của Ðức Phật A Di Ðà
Không thể kể hết chỗ nhân địa của hình phật di đà ở kiếp trước, tượng phật a di đà xin lược nói 4 kiếp như sau:
– hình phật a di đà ngồi, thì kiếp trước Ðức Phật A Di Ðà là con của Đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai. tượng phật di đà Nhờ công đức thường giảng kinh Pháp Hoa cho chúng sinh nghe nên thành Phật hiệu là A Di Ðà trụ ở cõi Tây phương Cực lạc.
hình phật a di đà
– tượng phật a di đà đứng, đời quá khứ Ngài là Tỳ kheo, tượng phật a di đà ngồi chăm lòng kính lễ quán tưởng tướng lông mày trắng của Đức Phật Không Vương, tượng phật a di đà bằng gỗ nên được thọ ký là Phật hiệu là A Di Ðà.
– tượng phật adida, hằng hà sa kiếp trước vua Chuyển Luân tên là Vô Tránh Niệm có một quan Ðại thần tên là Bảo Hải, tượng phật a di đà bằng đá rất giàu lòng tín ngưỡng. tượng adida Một hôm, nghe Đức Phật Bảo Tạng đến thuyết pháp ở gần bên thành( tại vườn Diêm Phù). hình phật a di đà tiếp dẫn Ngài cùng với Bảo Hải liền đến nghe và rất hài lòng. hình phật a di đà đứng Vua phát tâm thỉnh Phật và đại chúng vào vương cung và cúng dường trọn ba tháng để cầu phúc báu. di đà tam tôn Ðức Phật khuyên vua nên phát Bồ đề tâm cầu đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
tượng a di đà
Khi đó Đức Phật Bảo Tạng liền phóng hào quang sáng ngời, tượng phật a di đà nhỏ soi khắp cả thế giới của như Phật mười phương, tượng phật a di đà bằng đong lộc nam cho chúng hội đồng thấy. tượng a di đà phật Đại thần Bảo Hải liền tâu với vua Vô Tránh Niêm: “Nay Bệ hạ nhờ oai thần của Phật, tượng a di đà chùa phật tích được thấy các thế giới, phật thích ca có chữ vạn không vậy Bệ hạ muốn cầu lấy thế giới nào?”. thờ phật a di đà Vua đảnh lễ Phật, tượng phật a di đà bằng đồng quỳ gối chắp tay phát lời đại nguyện, cầu xin sau khi tu hành thành Phật, phan biet phat thich ca va phat adida quốc độ và nhân dân của Ngài, đều được trang nghiêm thanh tịnh. Do nhân duyên ấy, sau này Ngài thành Phật hiệu là A Di Ðà ở cõi Tây phương Cực lạc.
– Phật Thích Ca nói: Ðời quá khứ lâu xa, cách hơn 10 kiếp, thời Đức Phật Thế Tự Tại Vương có một nước tên là Diệu Hỷ, vua là Nguyệt Thượng Luân Vương và hoàng hậu là Thù Thắng Diệu Nhan. tượng phật a di đà tịnh tông Vương hậu sanh ra ba người con: người con trưởng là Nhật Nguyệt Minh, người con thứ hai là Kiều Thi Ca, người con thứ ba là Nhật Ðế Chúng. đặt tượng phật a di đà trong nhà Khi ấy Kiều Thi Ca nghe Phật thuyết pháp liền bỏ ngôi vinh quí theo Phật Thế Tự Tại xuất gia, thọ Kỳ kheo giới, Phật cho hiệu là Pháp Tạng Tỳ kheo. Trước Phật, Ngài Pháp Tạng phát 48 lời nguyện rộng lớn, độ khắp tất cả mười phương chúng sanh; nếu có một nguyện nào chẳng viên mãn, thì Ngài thề chẳng thành Phật. tượng phật adida bằng gỗ Khi ấy chư thiên rải hoa, tán thán, quả đất rúng động, giữa không trung có tiếng khen rằng:
“Pháp Tạng quyết định sẽ thành Phật hiệu là A Di Ðà“.
48 Ðại nguyện của Ðức Phật A Di Ðà
Nguyện thứ 1: Lúc tôi thành Phật, nếu trong cõi nước tôi, có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 2: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi, sau khi thọ chung, còn trở lại sa vào ba ác đạo, tuong phat adida thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 3: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi, thân chẳng màu vàng tất cả, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 4: Lúc tôi thành Phật, hình phật di đà nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi, thân hình có kẻ tốt người xấu chẳng đồng nhau, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 5: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi chẳng có Túc mạng thông, tượng phật a di đà ít nhất là biết rõ những việc trăm nghìn ức na-do-tha kiếp (vô số kiếp) thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 6: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi, chẳng đặng Thiên nhãn thông, hình phật a di đà ngồi ít nhất là thấy rõ trăm nghìn ức na-do-tha thế giới của chư Phật, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 7: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi, chẳng đặng Thiên nhĩ thông, ít nhất là nghe và thọ trì tất cả lời thuyết pháp của trăm nghìn ức na-do-tha Đức Phật, tượng phật di đà thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 8: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi chẳng được Tha tâm thông, ít nhất là biết rõ những tâm niệm của tất cả chúng sanh, tượng phật a di đà đứng trong trăm nghìn ức na-do-tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 9: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi, chẳng đặng Thần túc thông, khoảng một niệm, tượng phật a di đà ngồi ít nhất là đi qua khỏi trăm nghìn ức na-do-tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 10: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi, tượng phật a di đà bằng gỗ còn có quan niệm tham chấp lấy thân, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
tượng a di đà bằng đá
Nguyện thứ 11: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi, chẳng trụ định tu, nhẫn đến trọn diệt độ, thời tôi không ở ngôi Chính giác
Nguyện thứ 12: Lúc tôi thành Phật, nếu quang minh còn hữu hạn, tượng phật adida ít nhất cũng chiếu thấu trăm nghìn na-do-tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 13: Lúc tôi thành Phật, nếu thọ mạng còn hữu hạn, tượng phật a di đà bằng đá ít nhất cũng đến trăm nghìn ức na-do-tha kiếp, thời tôi không ở ngôi Chính giác
Nguyện thứ 14: Lúc tôi thành Phật, chúng Thanh văn trong cõi nước tôi, nếu có ai tính đếm biết được số bao nhiêu, tượng adida dầu đó là vô lượng Bích Chi Phật đồng tính đếm trong trăm nghìn kiếp, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 15: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, thọ mạng còn hữu hạn, trừ người có bổn nguyện riêng, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 16: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, hình phật a di đà tiếp dẫn còn có người nghe danh từ bất thiện thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 17: Lúc tôi thành Phật, nếu vô lượng chư Phật thập phương thế giới, hình phật a di đà đứng chẳng đều ngợi khen xưng danh hiệu tôi, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 18: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh, chí tâm tín mộ, muốn sanh về cõi nước tôi, di đà tam tôn nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sinh, thời tôi không ở ngôi Chính giác; trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch, cùng hủy báng Chính pháp.
Nguyện thứ 19: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh pháp Bồ đề tâm, tu các công đức, nguyện sanh về cõi nước tôi, tượng phật a di đà nhỏ đến lúc lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người đó, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 20: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh nghe danh hiệu tôi, chuyên nhớ cõi nước tôi, và tu các công đức, tượng phật a di đà bằng đong lộc nam chí tâm hồi hướng, muốn sinh về cõi nước tôi, nếu chẳng được toại nguyện, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 21: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhân thiên trong cõi nước tôi, tất cả chẳng đủ ba mươi hai tướng đại nhân, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 22: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi khác siinh về nước tôi, cứu cánh đều quyết đến bậc Nhất sinh bổ xứ, trừ người có bổn nguyện riêng, tự tại hóa hiện, vì chúng sinh mà phát hoằng thệ nguyện, tượng a di đà phật tu các công đức, độ thoát mọi loài, đi khắp thế giới, tu Bồ tát hạnh, cúng dường thập phương chư Phật, khai hóa vô lượng chúng sinh, làm cho tất cả đều đứng vững nơi đạo vô thượng chánh giác, siêu xuất công hạnh của các bậc thông thường, hiện tiền tu tập Ðại nguyện của Phổ Hiền, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 23: Lúc tôi thành Phật, các Bồ Tát trong cõi nước tôi, thừa thần lực của Phật, mà đi cúng dường thập phương chư Phật, trong khoảng thời gian một bữa ăn, nếu không đến khắp vô lượng vô số ức na-do-tha thế giới, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 24: Lúc tôi thành Phật, các Bồ tát trong cõi nước tôi, khi ở trước thập phương chư Phật, hiện công đức của mình, tượng a di đà chùa phật tích muốn có những vật cúng dường, nếu không được đúng như ý muốn, thời tôi không ở ngôi Chính giác
Nguyện thứ 25: Lúc tôi thành Phật, nếu chúng Bồ tát trong cõi nước tôi, không được Nhất thế trí, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 26: Lúc tôi thành Phật, nếu chúng Bồ tát trong cõi nước tôi, chẳng đều được thân kim cương Na-la-diên, phật thích ca có chữ vạn không thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 27: Lúc tôi thành Phật, thì trong cõi nước tôi, tất cả đồ dùng của nhân thiên, hình sắc đều sáng đẹp sạch sẽ, rất tột vi diệu, không có thể tính biết, dầu là người được thiên nhãn. thờ phật a di đà Nếu có người biết danh số các đồ vật ấy được rõ ràng, thời tôi không ở ngôi Chính giác
Nguyện thứ 28: Lúc tôi thành Phật, nếu Bồ tát trong cõi nước tôi, dầu là người ít công đức nhất, tượng phật a di đà bằng đồng chẳng thấy biết được cội cây đạo tràng cao bốn trăm muôn do-tuần, vô lượng quang sắc, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 29: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát trong cõi nước tôi, nếu thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 30: Lúc tôi thành Phật, nếu có ai hạn lượng được trí tuệ biện tài của Bồ tát trong cõi nước tôi, phan biet phat thich ca va phat adida thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 31: Lúc tôi thành Phật, cõi nước tôi thanh tịnh, các nơi đều soi thấy tất cả vô lượng vô số bất tư nghị thế giới ở mười phương, như là thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng được như thế, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 32: Lúc tôi thành Phật, trong cõi nước tôi từ mặt đất tràn lên đến hư không, lầu nhà cung điện ao nước hoa cây, tất cả vạn vật đều là vô lượng chất báu và trăm nghìn thứ hương, hiệp chung lại mà thành; vạn vật đều xinh đẹp kỳ diệu, mùi thơm xông khắp thập phương thế giới. Bồ tát các nơi ngửi đến mùi thơm ấy, thời đều tu hạnh của Phật. Nếu chẳng như thế, tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 33: Lúc tôi thành Phật, các loài chúng sanh trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, được quang minh của tôi chiếu đến thân tâm họ, thời thân tâm họ mềm dịu nhẹ nhàng hơn thiên nhơn, nếu chẳng như vậy, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 34: Lúc tôi thành Phật, các loài chúng sanh trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu của tôi mà không được vô sanh pháp nhẫn, cùng các môn thâm-tổng-trì, tượng phật a di đà tịnh tông thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 35: Lúc tôi thành Phật, các người nữ trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, vui mừng tin mến phát Bồ đề tâm, nhàm ghét thân gái. Nếu sau khi mạng chung mà còn làm thân người nữ nữa, thời tôi không ở ngôi Chính giác
Nguyện thứ 36: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu tôi, vẫn thường tu phạm hạnh, mãi đến thành Phật. Nếu chẳng được như thế, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 37: Lúc tôi thành Phật, hàng nhơn thiên trong vô lượng bất tư nghị thế giới ở mười phương, nghe danh hiệu tôi, cuối đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống đất, vui mừng tin mến tu Bồ Tát hạnh, thời chư Thiên và người đời đều kính trọng người đó. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Chính giác
Nguyện thứ 38: Lúc tôi thành Phật, hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi muốn có y phục, thời y phục tốt đúng pháp liền theo tâm niệm của người đó mà đến trên thân. Nếu còn phải cắt may nhuộm giặt, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 39: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, hưởng thọ sự vui sướng không như vị Lậu tận Tỳ-kheo, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 40: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, tùy ý muốn thấy vô lượng thế giới nghiêm tịnh của chư Phật ở mười phương, thời liền được thấy rõ cả nơi trong cây báu, đúng theo ý muốn, như thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 41: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó nhẫn đến lúc thành Phật, mà các căn còn thiếu xấu, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 42: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ Tát, ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, thảy đều được giải thoát tam muội. Trụ tam muội đó, trong khoảng thời gian một niệm, cúng dường vô lượng bất tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà vẫn không mất chánh niệm. Nếu chẳng như thế, tượng phật a di đà tịnh tông thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 43: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung thác sanh nhà Tôn quí, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 44: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hơn hở, tu Bồ Tát hạnh, trọn đủ công đức, nếu chẳng như thế, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 45: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở phương khác nghe danh hiệu tôi, đều đặng Phổ đẳng tam muội, trụ tam muội này mãi đến lúc thành Phật, thường được thấy vô lượng bất tư nghị tất cả chư Phật. Nếu chẳng như thế thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 46: Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở trong cõi nước tôi, muốn nghe pháp gì, thời liền tự nhiên đặng nghe pháp ấy. Nếu chẳng như thế thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 47: Lúc tôi thành Phật, nếu chúng Bồ tát ở thế giới phương khác, nghe danh hiệu tôi mà chẳng được đến bậc bất thối chuyển, thời tôi không ở ngôi Chính giác.
Nguyện thứ 48: Lúc tôi thành Phật, nếu chúng Bồ tát ở thế giới phương khác nghe danh hiệu tôi, mà chẳng liền được Ðệ nhất âm hưởng nhẫn, tượng phật adida bằng gỗ ở nơi Phật pháp chẳng liền được bậc bất thối chuyển, thời tôi không ở ngôi Chính giác.






